Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ?

Trong quá trình sử dụng lao động vì một số lý do nào đó mà người lao động thường bị buộc thôi việc một cách bất ngờ, không có sự thông báo trước và cũng không nhận được một lời giải thích rõ ràng nào từ người sử dụng lao động. Đó được coi là những trường hợp mà người sử dụng lao động đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Vì theo quy định của pháp luật lao động hiện nay, nếu người sử dụng lao động muốn chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì phải có sự thỏa thuận đồng ý của người lao động. Hoặc phải đưa ra được lý do chính đáng và thực hiện nghĩa vụ thông báo trước cho người lao động biết. Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn thì phải thông báo trước ít nhất là 30 ngày làm việc. Đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn thì phải thông báo trước tối thiểu là 45 ngày làm việc. Tất cả những trường hợp không thông báo trước hoặc không đưa ra được lý do chính đáng theo quy định của luật thì đều được coi là chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.


Trách nhiệm đầu tiên mà người sử dụng lao động phải thực hiện khi cho người lao động nghỉ việc trái luật là phải nhận họ trở lại làm việc và thanh toán đầy đủ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế những ngày là người lao động phải nghỉ làm. Ngoài ra còn phải bồi thường ít nhất hai tháng tiền lương cho người lao động. Tuy nhiên một khi mà người sử dụng lao động họ đã có mong muốn cho nghỉ việc người lao động có quay trở lại làm thì đó cũng không phải là môi trường làm việc tiềm năng dành cho người lao động nữa. Do đó trong trường hợp này đa số người lao động sẽ đồng ý chấp nhận nghỉ làm.

Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, theo quy định của Pháp luật hiện nay được chia thành 2 trường hợp chính như sau

>>  Trường hợp thứ nhất, người sử dụng lao động đồng ý nhận người lao động vào làm việc trở lại nhưng người lao động không muốn quay lại nữa: Trong trường hợp này người sử dụng lao động chỉ cần xem xét chi trả thêm cho người lao động khoản trợ cấp thôi việc với những khoản thời gian không tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho họ. Trường hợp đã tham gia đầy đủ thì không cần chi trả thêm một khoản nào nữa.

>> Trường hợp thứ hai, người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động cũng đồng ý thì người sử lao động phải chi trả 3 khoản như sau:
  • Một, toàn bộ tiền lương, tiền bảo hiểm những ngày người lao động không được đi làm + 2 tháng tiền lương 
  • Hai, trợ cấp thôi việc nếu không tham gia bảo hiểm thất nghiệp
  • Ba, bồi thường thêm ít nhất 2 tháng tiền lương nữa 

Trên đây là một số quy định pháp lý điều chỉnh việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hiện nay. Nếu có nhu cầu cần được tìm hiểu chuyên sâu hơn về lĩnh vực này hãy liên hệ tới Luật Việt Tín để được tư vấn, hỗ trợ hoàn toàn miễn từ các chuyên viên tư vấn ở đây.

THE END !









Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Thủ tục tạm ngừng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ?

Cách làm mứt dừa ngon

Mức đóng bảo hiểm cho người lao động hiện nay ?